Phương pháp giáo dục nhân cách học sinh


Mẹo HayHọc TốtPhương pháp

skkn một số biện pháp giáo dục nhân cách sống cho học sinh lớp 9

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.95 MB, 26 trang )



Tªn ®Ị tµi:
Mét sè biƯn ph¸p gi¸o dơc nh©n c¸ch sèng cho häc sinh líp 9.
Ngêi thùc hiƯn: Ngun ThÞ Nhung
Chøc vơ: Gi¸o viªn
§¬n vÞ c«ng t¸c : Trêng Thcs thanh th
Hun thanh oai - tp hµ néi
§Ị tµi thc lÜnh vùc : Chđ nhiƯm
Cộng hòa xã hội chủ nghóa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. SƠ YẾU LÍ LỊCH
1
- Họ tên: Nguyễn Thò Nhung
- Ngày, tháng, năm sinh: 02 – 9 – 1977
- Năm vào ngành: 1998
- Chức vụ và đơn vò công tác: Giáo viên Trường THCS Thanh Thùy –
Thanh Oai – TP Hà Nội
- Trình độ chuyên môn: Đại học
- Bộ môn giảng dạy: Ngữ văn
- Công tác khác: Chủ nhiệm
- Trình độ chính trò: Sơ cấp
- Khen thưởng: Sở GD – ĐT Thành phố Hà Nội và Phòng GD - ĐT
Huyện Thanh Oai tặng giấy khen.
II.NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
1. Lý do chọn đề tài
Tên đề tài: Một số biện pháp giáo dục nhân cách sống cho học sinh
lớp 9.
Những năm cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI, nước ta thực hiện
chính sách mở cửa nhất là khi nước ta đã gia nhập tổ chức thương mại


lớn nhất thế giới WTO, đã làm thay đổi bộ mặt của đất nước cả về
kinh tế, văn hoá và xã hội. Bên cạnh những tiến bộ đã đạt được nhưng
cũng có không ít những tác động xấu ảnh hưởng đến đạo đức lối sống
2
của chúng ta nói chung và một bộ phận thanh thiếu niên lứa tuổi học
trò đang ngồi trên ghế nhà trường cũng bò ảnh hưởng nói riêng. Vấn đề
đạo đức, nhân cách sống trong học đường là một vấn đề bức xúc nhất
hiện nay đáng để chúng ta phải quan tâm.
Ngoài việc truyền đạt kiến thức, việc giáo dục nhân cách sống
cho học sinh cũng là một vấn đề quan trọng và cấp bách cần có những
giải pháp giúp các em ở lứa tuổi trung học cơ sở tránh khỏi những ảnh
hưởng xấu, để các em luôn là con ngoan, trò giỏi, cháu ngoan Bác Hồ
và là những bông hoa tươi thắm, xứng đáng là những người chủ tương
lai của đất nước .
2. Phạm vi thực hiện đề tài
Đề tài này tôi thực hiện ở lớp 9 trong năm học 2011 - 2012
III. THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Khảo sát thực tế
Từ thực tế và qua thông tin báo chí …tôi thấy rằng cùng độ tuổi
như nhau đều là học sinh trong lớp nhưng có em học giỏi, hồn nhiên,
vô tư, sống sôi nổi chan hòa thích hoạt động tập thể. Ngược lại có
những em lại học yếu, nghòch ngợm, có em lại tính tình trầm lặng, thu
mình xa lánh mọi người. Thậm chí có em không thèm quan tâm đến
việc học tập mà chỉ nghó đến việc đua đòi như chơi điện tử, ăn mặc,
đầu tóc, thành lập nhữõng nhóm Tệ hại hơn có một số em còn vô lễ
với thầy, cô giáo, với những người lớn tuổi, đánh nhau, đi xe máy chở
ba chở bốn lạng lách trên đường và đã có những trường hợp đáng tiếc
xảy ra. Thật đau lòng khi chúng ta là những nhà giáo dục phải chứng
kiến những cảnh đau lòng ấy.
Qua tìm hiểu tôi thấy các em vi phạm đạo đức nhân cách sống là


do nhiều nguyên nhân, nhưng chung qui lại có một số nguyên nhân sau:
- Do gia đình gặp khó khăn hoặc bố mẹ mất sớm không đủ điều kiện
đi học nên chán nản học hành hay bỏ tiết, ít nói chuyện, ít tiếp xúc với
bạn bè trong lớp, không tham gia các phong trào của lớp và của trường.
3
Ví dụ: Em Lý Hải Yến từ lớp 1 đến lớp 7 em luôn là học sinh giỏi. Trước
đây kinh tế gia đình không đến nỗi. Nhưng rồi bố em đột ngột qua đời.Từ
đó gia đình em bắt đầu gặp nhiều khó khăn vì không có người trụ cột gia
đình. Mặc dù nỗi mất mát quá lớn, nhưng những lời cha vẫn thường dặn
mấy chò em“ Cha mẹ ngày trước học ít bây giờ cha muốn các con phải học
cho giỏi nên người” luôn ở trong tâm trí em. Yến vẫn tiếp tục ra sức học
hành để không phụ lòng mong mỏi của cha. Yến hay gần gũi các thầy
cô,bạn bè để hỏi han kiến thức.Tham gia sôi nổi, nhiệt tình trong các
hoạt động của trường, lớp. Nhưng rồi đến cuối năm lớp tám, em chơi thân
với số bạn lười học chỉ nghó đến chơi bời ở lớp bên.Từ một cô bé ngày nào
thông minh, hoạt bát trong mọi phong trào giờ trở nên lầm lì ít nói, thu
mình lại, lực học sa sút hẳn.
- Có trường hợp bố mẹ ít quan tâm đến việc học hành và giáo dục
đạo đức của con cái. Chẳng hạn có một số gia đình khá giả chỉ biết
cung cấp tiền cho con mình. Con thích gì được đấy, luôn thích con nổi
trội hơn bạn bè, thích con làm dáng mà không biết con em mình học
hành như thế nào và kết bạn với những ai. Từ đó các em bỏ bê học
hành theo bạn bè ăn chơi, đua đòi quậy phá hư hỏng….
- Một số gia đình có bố mẹ không hoà thuận dẫn đến làm ảnh
hưởng tư tưởng của con cái. Như trường hợp em Hoàng Ngọc Lệ từ một
học sinh khá tự nhiên học sa sút, hay bỏ tiết vắng học vô lí do. Qua tìm
hiểu bạn bè của em và tâm sự trực tiếp với em, tôi mới biết rằng nhà
em có chuyện. Bố mẹ em bất hòa và li dò, em đang sống trong cảnh đó
rất buồn và không còn tâm trí nào tập trung vào học.
- Do một số gia đình giáo dục con cái không đúng cách, không


nắm được tâm lý của con nên thường áp đăït ý thức chủ quan của mình
vào việc giáo dục đạo đức cho con, làm các em bức xúc và có những
hành vi cư xử chưa đúng mực.
Ví dụ: Em Nguyễn Thế Du do bố mẹ hay áp đặt, đối xử thiên
nhiều về người em ít quan tâm đến Du. Luôn luôn cho là Du kém cỏi
4
hơn em. Một phần không nắm rõ tâm lý, luôn luôn mắng mỏ, qû
trách em khiến em cảm thấy chán nản, bất mãn với cuộc sống, sống
trầm cảm, không thiết tha học.
- Có nhiều em sống trong hoàn cảnh gia đình cực kì khó khăn
nhưng các em đã có sự cố gắng vươn lên trong học tập. Nhưng đến lứa
tuổi THCS do chơi với bạn xấu nên bỏ bê học tập, ăn chơi đua đòi,
sinh ra những thói hư tật xấu.
Vậy làm thế nào để giúp các em tránh rơi vào những tình trạng
trên và để trở thành một học trò giỏi, một đứa con ngoan, một người
thực sự có ích cho xã hội. Thì chúng ta cần phải có những sáng kiến,
những biện pháp hữu hiệu để giáo dục nhân cách sống cho học sinh
trung học cơ sở nhất là ở độ tuổi cuối cấp.
2. Số liệu điều tra trước khi thực hiện
Qua theo dõi , thăm dò trong các hoạt động giao tiếp của các em đầu
năm học:
Lớp Hành vi giao tiếp có văn
hóa
Hành vi giao tiếp chưa có
văn hóa
9A( 45h/s) 20 em 25 em
3. Những biện pháp thực hiện( nội dung chủ yếu của đề tài)
Tôi là giáo viên vừa giảng dạy môn Ngữ văn của lớp vừa làm công
tác chủ nhiệm tôi luôn băn khoăn và trăn trở về tình hình đạo đức của
học sinh lứa tuổi THCS hiện nay. Và tôi thấy mình phải có một phần


trách nhiệm trong vấn đề này.
Giáo viên chủ nhiệm có một vò trí , chức năng đặc biệt ở trường phổ
thông nhất là trong giai đoạn hiện nay. Không thể phủ nhận được vai
trò, vò trí của giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông vì học sinh
phổ thông đang ở lứa tuổi nhân cách chưa phát triển đầy đủ, còn thiếu
kinh nghiệm sống và có những đặc điểm tâm lý riêng. Trong điều kiện
5
bùng nổ thông tin, có những tác động tiêu cực từ nhiều phía nếu thiếu
sự đònh hướng giáo dục thường xuyên một số em sẽ khó tránh khỏi
những ảnh hưởng không lành mạnh. Do đó tôi xin đề xuất một số biện
pháp . Hy vọng góp phần vào việc giáo dục đạo đức học sinh lứa tuổi
THCS.
3.1. Những chức năng, nhiệm vụ của người giáo viên chủ nhiệm lớp
- Giáo viên chủ nhiệm là người thay mặt hiệu trưởng quản lý giáo dục
toàn diện học sinh của lớp mình đang đảm nhiệm. Không chỉ quản lý
về mặt hành chính mà còn phải dự báo xu hướng phát triển nhân cách
của học sinh trong lớp để có phương hướng tổ chức hoạt động giáo dục
phù hợp với điều kiện, khả năng của mỗi học sinh. Để quản lí được thì
người giáo viên phải có những tri thức cơ bản về tâm lí học, giáo dục
học, phải tiếp cận đối tượng học sinh. Việc giáo dục có tác động mạnh
mẽ đến chất lượng học văn hóa nhất là trong điều kiện hiện nay khi
từng ngày từng giờ bò những cám dỗ của những ảnh hưởng tiêu cực dội
vào nhà trường.
- Giáo viên chủ nhiệm tổ chức cho học sinh những hoạt động tự quản
nhằm phát huy tiềm năng tích cực của học sinh. Giáo viên chủ nhiệm
chỉ điều khiển, đònh hướng chứ không trực tiếp tham gia điều khiển
công việc của lớp, không làm thay các em trong mọi hoạt động. Nhiều
giáo viên chủ nhiệm chỉ căn cứ vào một số tiêu chuẩn để chọn cán bộ
lớp quản lí như học giỏi, có đức, có năng lực hoạt động, có uy tín với
lớp… , rất ít giáo viên chủ nhiệm dựa vào đặc điểm của quá trình phát


triển của tập thể để xây dụng đội ngũ tự quản. Nên căn cứ vào 3 giai
đoạn phát triển và 5 đặc điểm của tập thể giáo dục mà lựa chọn đội
ngũ tự quản.
Ví dụ: Ở giai đoạn đầu( tậïp thể mới hình thành) rất cần có một lớp
trưởng, chi đội trưởng biết hy sinh, có uy tín biết quan tâm đến người
khác, gương mẫu, biết cảm hóa các bạn, không nhất thiết phải là học
sinh học giỏi nhất lớp. Nhưng sang giai đoạn 2 và 3(khi tập thể đã
6
phát triển có đầy đủ 5 đặc điểm) rất cần có người cầm đầu năng động,
sáng tạo, luôn tìm tòi nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt
động mọi mặt để cuốn hút các bạn vào hoạt động. Lấy hoạt động chiều
sâu của nội dung học tập, hoạt động ngoại khóa, văn hóa xã hội làm
phương tiện giáo dục tập thể, rèn luyện năng lực tự quản, thái độ, tình
cảm và hành vi của mỗi em.
Giáo viên chủ nhiệm chỉ là người giúp học sinh tự tổ chức các hoạt
động đã được kế hoạch hóa. Điều đó không có nghóa là khoán trắng,
đứng ngoài hoạt động của tập thể học sinh lớp học mà nên cùng hoạt
động, điều chỉnh hoạt động, kòp thời giúp các em tháo gỡ những khó
khăn trong quá trình hoạt động. Bàn bạc, tranh thủ các lực lượng
trong và ngoài nhà trường tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh của lớp
tổ chức hoạt động. Chẳng hạn bàn bạc với giáo viên bộ môn phụ đạo
em kém, bồi dưỡng em có năng khiếu, tổ chức hoạt động học tập, văn
nghệ, thể dục thể thao, tranh thủ sự giúp đỡ của Hội phụ huynh động
viên các em hoạt động.
Qua hoạt động tự quản tôi dự đoán được khả năng của các em để
khêu gợi tiềm năng sáng tạo, phát triển tiềm năng trí tuệ vốn có của
từng em trong học tập, xây dựng kế hoạch hoạt động toàn diện.
- Giáo viên chủ nhiệm là cái cầu nối để giải quyết những bất hòa,
những vấn đề mà các em không tự giải quyết được. Có những em tôi
thấy rất ngại khi phải tâm sự với cô giáo , hoặc ngại bạn bè không dám


tâm sự trực tiếp với cô giáo thì tôi tạo điều kiện để các em có cơ hội
được bày tỏ tâm tư nguyện vọng của mình đó là các em viết vào giấy
sau đó gửi như một hình thức viết thư.
3.2.Những nhiệm vụ của người giáo viên chủ nhiệm
a. Tìm hiểu tâm sinh lứa tuổi các em
Học sinh lứa tuổi THCS nói là người lớn thì không đúng, nói là trẻ
con thì cũng không phải. Ở lứa tuổi này tâm lí của các em rất phức tạp
hay dao động, hay bò ảnh hưởng muốn chứng tỏ mình là người lớn.… Nếu
7
chúng ta không nắm được tâm lí của các em ở lứa tuổi này nói chung và
tâm lí của từng em nói riêng thì khó có thể mà đưa ra những biện pháp
giáo dục thích hợp. Mỗi khi thấy các em có những biểu hiện khác
thường, tôi lân la, khơi gợi tìm hiểu các em chơi thân với em đó để tìm
hiểu nguyên nhân, nếu là do gia đình hay bạn bè thì phải kòp thời giải
quyết ngay không để kéo dài tâm lý thêm nặng nề còn dẫn đến nhiều
vấn đề khác nữa. Nếu được tâm sự các em sẽ thổ lộ hết để tìm được sự
sẻ chia.
Ví dụ: Về vấn đề chọn bạn thì tâm lí các em chưa hoàn thiện nên cách
nhìn nhận chỉ đúng ở một góc độ là càng nhiều bạn càng tốt, càng
vui .Tôi sẽ hướng cho các em xây dựng một tình bạn chân chính, tốt
đẹp. Nói cho các em thấy trong thực tiễn cuộc sống có những tình bạn
vô cùng cao quý, thủy chung” Sống chết có nhau” nâng cao nhân phẩm
giá trò con người, nhưng cũng có những tình bạn dẫn dắt nhau vào con
đường lầm lạc gây nên những bi kòch lớn của cuộc đời . Các em không
nên quá sa đà vào các sinh hoạt hội hè, tham quan, sinh nhật làm
xáo trộn các hoạt động khác.
Tôi sẽ nhắc nhởû các em là một con người trừ một vài trường hợp
ngoại lệ ai cũng cần có bạn, cần những người bạn ý hợp tâm đầu có tôn
chỉ, mục đích cuộc sống chân chính để giúp nhau vượt qua những khó
khăn, trở ngại nhằm đạt những ước mơ tốt đẹp của cuộc đời, nhưng


điều đó không phải dễ dàng. Do đó, việc tìm bạn, kết bạn cũng đòi hỏi
một quá trình tìm hiểu, lựa chọn, cân nhắc trên những nguyên tắc đạo
đức nhất đònh, sao cho tình bạn đó giúp mình ngày càng nâng cao
phẩm giá nhân cách như người ta thường nói:” Hãy cho tôi biết bạn
anh là ai, tôi sẽ cho biết anh là người thế nào”.
b. Luôn luôn lắng nghe những tâm tư, nguyện vọng của các em
Ở lứa tuổi này các em rất muốn người khác tôn trọng mình nên
khi phát hiện các em vi phạm lần đầu phải từ từ tìm hiểu nguyên nhân,
phải lắng nghe tâm tư nguyện vọng của các em rồi dùng những biện
8
pháp nhẹ giáo dục tư tưởng cho các em, phải tạo cho các em cơ hội sửa
đổi. Ví dụ như gặp riêng các em trao đổi, nhắc nhở chẳng hạn, không
nên vội vàng kết luận các em là hư hỏng, hay dùng các biện pháp
mạnh như mời phụ huynh hoặc dùng những lời lẽ xúc phạm, kỉ luật các
em như vậy sẽ dẫn đến các em vi phạm nhiều hơn. Tôi luôn tạo sự gần
gũi với các em không để cho các em cảm thấy giữa cô và trò có một
khoảng cách. Nhất là đối với các em vi phạm. Qua tâm sự để biết được
tâm tư tình cảm của các em hoặc hàng tuần cho các em viết những tâm
tư tình cảm hay nguyện vọng của mình vào giấy để trao đổi với giáo
viên chủ nhiệm. Từ đó giáo viên chủ nhiệm dễ nắm bắt được tình hình
của lớp nói chung và của từng em học sinh nói riêng để kòp thời giáo
dục tư tưởng đạo đức cho các em.
9
nh các em đang trò chuyện về tâm tư nguyện vọng của mình
c.Thường xuyên kể cho các em nghe những câu chuyện
Tôi thường hay lấy những câu chuyện trong cuộc sống kể cho các
em nghe để các em thấy được những thiếu xót về nhân cách của mình.
Đặc biệt là đối với các học sinh nữ thì tôi đã có buổi trò chuyện rất vui
vẻ. Tôi nói chuyện về lối sống buông thả của các thanh thiếu niên
10


hiện nay. Từ đó các em cảnh giác trong cuộc sống của mình.
11
12
nh các em nữ đang nghe kể chuyện

d.Liên kết với cha mẹ học sinh
Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách mỗi người,
nhất là tuổi ấu thơ thì gia đình luôn luôn là cái nôi ấp ủ cả về mặt thể
chất lẫn tâm hồn. Gia đình luôn là môi trường sống, môi trường giáo
dục suốt đời của sự hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách mỗi
người từ lúc lọt lòng đến lúc chết.Tác động của gia đình là rất lớn, gia
đình có nhiệm vụ và tác động giáo dục lớn đối với các thành viên trong
gia đình, nhất là đối với lứùa tuổi trẻ. Đối với quá trình hình thành
nhân cách, tác động của gia đình, trước hết là của người mẹ, người mẹ
bao giờ cũng gần gũi,quan tâm,chăm sóc con lúc còn ấu thơ hơn là
người cha. Cho nên người mẹ sẽ nắm rõ các đặc điểm của con để mà
uốn nắn.Tình cảm gia đình, tác động của gia đình tốt, giúp mỗi con
người có thêm nghò lực, sức mạnh vượt qua những khó khăn cám dỗ để
vươn lên tự hoàn thiện nhân cách. nh hưởng của gia đình có sức
mạnh vô hình vì đó là sức mạnh của truyền thống, của tâm lý, ý thức
xã hội đã được cá nhân hóa, nó biến thành tự ý thức. Tự ý thức là yếu
tố quyết đònh năng lực tự điều chỉnh nhận thức, hành vi, tình cảm của
con người.
nh hưởng của gia đình có hai chiều hướng. Nếu những gia đình
tốt, thực sự là môi trường giáo dục, cha mẹ vừa là những người sinh
thành vừa là thầy giáo, cô giáo. Ngược lại, những gia đình có quan hệ
không lành mạnh, cha mẹ không phải là những mẫu mực về nhân cách
xã hội, cha mẹ không có phướng pháp giáo dục đứng đắn sẽ đêû lại
những dấu ấn không lành mạnh, sẽ dẫn đến những sai lệch về nhân
cách có những biểu hiện lệch lạc, thậm chí là phạm pháp. Nhữùng


phẩm chất nhân cách được hình thành ở tuổi thơ phần quan trọng đều
13
do sự giáo dục, ảnh hưởng của cha mẹ, cái gì đã được đặt nền móng ở
tuổi thơ thì ổn đònh và là nền tảng để phát triển hoàn thiện nhân
cách. Vì vậy nếu đònh hướng giáo dục gia đình sai lầm để trẻ hình
thành những thói xấu, khi lớn lên không ngăn ngừa sẽ là mầm mống
cho nhữùng hành vi không lành mạnh nảy sinh . Gia đình là cơ sở, là cơ
quan tiếp nhận thông tin. Gia đình là trung tâm xử lí thông tin một
cách chính xác . Ở nhiều bậc cha mẹ vì thiếu hiểu biết về tâm lí của
con, thiếu tri thức sư phạm không quan tâm đầy đủ yêu cầu rèn luyện
cho con bản lónh, năng lực tự chủ trong hoạt động giao tiếp xã hội, nên
khi các em lớn dễ bò dao động trước tác động tiêu cực của xã hội.
Gia đình là cái nôi để phát triển nhân cách cho trẻ, gia đình là tế
bào của xã hội, là lực lượng giáo dục đầu tiên ảnh hưởng đến thế hệ
trẻ.Vì vậy giáo viên chủ nhiệm phải thường xuyên gặp gỡ trao đổi với
cha mẹ của các em, để biết được hoàn cảnh gia đình và đặc điểm tâm lí
của các em. Tôi thường trao đổi với phụ huynh vào cuối tuần qua sổ
theo dõi , hoặc điện thoại trực tiếp có thể đến thăm nhà.Trong những
trường hợp đột xuất có thể mời cha mẹ đến trường để cùng nhau bàn
bạc tìm cách giải quyết kòp thời. Từ đó nhà trường cũng như gia đình
có biện pháp thích hợp để giáo dục đạo đức cho các em. Phải phối hợp
việc giáo dục giữa gia đình và nhà trường thì việc giáo dục đạo đức cho
con em mới đạt hiệu quả. Tôi kểû cho các nghe một câu chuyện vừa mới
xảy ra ở ngay đòa phương ta đó là em Cao Thò Mơ thôn Từ Am là học
sinh lớp 10 Trường PTTH Thanh Oai B do đàn đúm, đua đòi, ăn chơi
theo bạn bè rủ rê nên đã bỏ học đi chơi để xảy ra cái chết thật đáng
thương tâm khi còn đang ở lứa tuổi học hành. Điều đáng trách ở đây là
các bậc cha mẹ chưa quan tâm đếùn con cái, chưa nắm rõ những tính
cách của con để con sống buông thả. Một cái chết để cho người đời chê
trách nhiều hơn là thương xót. Qua câu chuyện các em cũng đã thấy


được vai trò to lớn của cha mẹ trong quản lí giáo dục con cái.
đ. Liên kết với các giáo viên bộ môn.
14
Ngoài ra hàng tuần giáo viên chủ nhiệm phải gặp gỡ trao đổi với
giáo viên bộ môn để nắm bắt được tình hình đạo đức của học sinh lớp
mình và cùng phối hợp với giáo viên bộ môn để giáo dục tư tưởng đạo
đức cho học sinh. Có thể thông qua các môn học để giáo dục nhân cách
cho các em đặc biệt là môn Ngữ văn và môn Giáo dục công dân.
e.Phân công nhiệm vụ cho từng cán bộ lớp
Giáo viên chủ nhiệm nên phân công đội ngũ ban cán sự lớp trực
tiếp quản lý từng nhóm, từng tổ để giúp đỡ nhau trong học tập cũng
như rèn luyện đạo đức và hàng tuần phải có báo cáo lại cho giáo viên
chủ nhiệm để đảm bảo thông tin hai chiều, bởi vì chúng ta hiểu rằng
khả năng học tập cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc rèn luyện đạo
đức của học sinh.
Tôi giao cho hai cán bộ lớp phụ trách vấn đề đời sống của các bạn
trong lớp. Phải quan tâm sát sao, nắm rõ hoàn cảnh gia đình của từng
bạn. Nhiều khi các em còn e ngại chưa dám tâm sự thẳng thắn với cô
giáo chủ nhiệm nhưng qua những người bạn của mình thì các em bộc
bạch hết những ưu tư, phiền muộn trong lòng. Từ đó, tôi có chỗ để
nắm bắt từng em và tìm cách tháo gỡ kòp thời.
Đối với các em học sinh chưa ngoan. Giáo viên chủ nhiệm phải
thường xuyên theo dõi phát hiện ghi nhận những tiến bộ của các em.
Để kòp thời tuyên dương, khuyến khích, khích lệ các em. Làm cho các
em nhanh tiến bộ hơn.
Còn đối với những em học sinh giỏi và ngoan, chúng ta cũng
không được lơ là mà phải luôn luôn quan tâm nhắc nhở và khuyến
khích các em để các em tiến bộ hơn nữa.
g.Giáo viên chủ nhiệm phải đònh hướng cho học sinh biết điều
chỉnh hành vi của mình.


Từ khi con người xuất hiện ở trên trái đất, không thể không tránh
khỏi một quy luật tất yếu là họ phải có quan hệ trực tiếp hay gián tiếp
với nhau để sinh tồn và phát triển. Quan hệ giữa con người với con
15
người, giữa cá nhân và cộng đồng ngày càng vô cùng phức tạp, phong
phú đòi hỏi mỗi cá nhân phải lựa chọn cách giao tiếp, ứng xử, điều
chỉnh thái độ, hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích chung của
mọi người, của cộng đồng, của xã hội.
Các em muốn làm được điều thiện tránh được điều ác, muốn làm cho
hành vi của mình được mọi người chấp nhận, không bò dư luận xã hội
lên án thì ta phải nắm được quan điểm, nguyên tắc, quy tắc, chuẩn
mực đạo đức cơ bản. Từ đó các em có thể chọn cho mình những hành
vi phù hợp. Cùng với quá trình giáo dục thì quá trình tự giáo dục nhờ
vào hoạt động và giao lưu tích cực, các em càng hiểu rõ vai trò to lớn
của lương tâm, nghóa vụ, ý thức, danh dự và những phẩm chất đạo đức
cần thiết của cá nhân mình đối với đời sống của những người khác
trong cộng đồng . Nhờ có chức năng giáo dục và tự giáo dục mà các em
học tập được những tấm gương đạo đức cao cả xả thân làm việc nghóa,
hy sinh quên mình cho đất nước, kiên cường đấu tranh cho chân lý
góp phần làm cho xã hội ngày càng công bằng, văn minh, tiến bộ. Mỗi
cá nhân, vì cuộc sống của mình và vì hoạt động cho tiến bộ xã hội đều
phải có những phẩm chất, đạo đức và năng lực nhất đònh. Giáo viên
chủ nhiệm phải giúp các em nhận thức đúng những phẩm chất đạo đức
tiến bộ không phải tự nhiên mà có, mà phải thông qua quá trình giáo
dục, tự giáo dục, rèn luyện trong lao động và đấu tranh bền bỉ hàng
ngày như Bác Hồ đã dạy:” ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện
càng trong” mới có thể giữ vững và nâng cao được những phẩm chất
đạo đức tốt đẹp của cá nhân phù hợp với lợi ích chung của xã hội.
Ứng dụng đề tài vào một hoạt động cụ thể
Tổ chức ngoại khóa giao lưu, tìm hiểu với chủ đề nếp sống


thanh lòch, văn minh của học sinh Hà Nội qua giao tiếp ứng
xử ngoài xã hội
A. Mục tiêu cần đạt
16
- Hiểu được ý nghóa của giao tiếp, ứng xử trong đời sống xã hội
- Rèn luyện thói quen giao tiếp, ứng xử thanh lòch, văn minh sẽ tạo cho
bản thân mỗi người sự linh hoạt , thích ứng trong thời đại mới.
- Hiểu được một số yêu cầu cơ bản khi giao tiếp, ứng xử ngoài xã hội.
B. Nội dung - hình thức hoạt động
1. Nội dung
- Nhữùng mẩu chuyện, tình huống có liên quan đến ứng xử
- Những con người thanh lòch, văn minh
2. Hình thức
- Trao đổi, thảo luận
- Thể hiện hành động ứng xử.
C. Chuẩn bò hoạt động
* Giáo viên chủ nhiệm
- Chuẩn bò một số câu hỏi hoặc vấn đề cần khai thác từ hoạt động giao
tiếp, ứng xử.
- Giao nhiệm vụ cho đội ngũ cán bộ lớp chuẩn bò về tổ chức thực hiện
hoạt động này.
* Học sinh
- Cán bộ lớp họp bàn kế hoạch thực hiện: phân công các tổ chuẩn bò ý
kiến, các tiết mục tham gia, xây dựng chương trình hoạt động.
- Từng cá nhân chuẩn bò một hành vi giao tiếp, ứng xử
- Chuẩn bò trang trí
D. Tiến trình hoạt động
Hoạt động 1: Đặt vấn đề
GV giới thiệu nội dung của buổi ngoại khóa, giao lưu
GV chiếu các mẩu chuyện, ảnh


Hoạt động 2. Tìm hiểu nội dung, ý nghóa của giao tiếp, ứng xử
1. Ýù nghóa của giao tiếp , ứng xử trong đời sống xã hội
17
Con người sống trong các mối quan hệ xã hội đa dạng phức tạp
dù ở bất kì hoàn cảnh nào thì một lời nói hay, một cử chỉ đẹp,
một thái độ lễ phép, cách ứng xử thanh lòch cũng sẽ tạo được ấn
tượng tốt và sự quý mến của mọi người. Văn hóa giao tiếp, ứng
xử thể hiện sự hiểu biết và năng lực của mỗi người.
2. Một số yêu cầu khi giao tiếp ứng xử
- Trang phục phải chỉnh tề, phù hợp với đối tượng và hoàn cảnh
giao tiếp. Nếu như chúng ta luộm thuộm sẽ khiến cho đối tượng
giao tiếp đánh giá thấp hoặc bò coi thường, làm giảm hiệu quả
của giao tiếp.
- Tác phong phải đónh đạc, nói năng rõ ràng, tếù nhò, khiêm
nhường.
- Thái độ cử chỉ phải ân cần,nhiệt tình, tránh tỏ ra thờ ơ, lạnh
nhạt, bực tức khi giao tiếp.
3. Trong khi giao tiếp phải biết rèn cho mình một thói quen
- Biết chào hỏi
Ví dụ: Chào theo tuổi tác người trẻ chào người già trước
Chào theo đòa vò xã hội người đòa vò thấp chào trước
người có đòa vò cao hơn
- Biết tự trọng và tôn trọng người khác
Trong giao tiếp xã hội, chúng ta cần biết tự trọng đồng thời phải
biết tôn trọng người khác. Phải luôn tỏ ra khiêm tốn với mọi người
xung quanh, chủ động chào hỏi , trò chuyện với họ và chứng tỏ mình
luôn đánh giá cao đối tượng đang giao tiếp với mình. Ta tôn trọng
người khác chính là ta đang tôn trọng bản thân mình.
- Biết lắng nghe và bày tỏ quan điểm
Trong khi giao tiếp các em phải biết nghe người khác nói, trong lúc


người khác nói không nói chen vào. Nếu như quan điểm không trùng
với quan điểm của mình thì không được phản ứng gay gắt mà phải tế
nhò, điềm đạm.
18
- Khi làm phiền ai một điều gì đó hay được người khác giúp thì các em
phải biết nói lời cảm ơn hoặc xin lỗi.
Hoạt động 3: Giao tiếp, ứng xử thanh lòch, văn minh
1. Giao tiếp, ứng xử khi tham gia các hoạt động văn hóa
- Tôn trọng nội qui nơi đến, không làm ảnh hưởng đến những người
xung quanh.
Ví dụ : Khi đến thư viện nhà trường đọc sách, hay xem phim . Có tác
phong nghiêm túc, nói năng đúng mực, trang phục đúng quy đònh,
không gây mất trật tự, thực hiện đúng nội qui của thư viện.
2. Giao tiếp, ứng xử ở nơi công cộng
Đây là một môi trường tốt để các em có thể giao lưu, học hỏi lẫn
nhau. Không được vò kỉ, cá nhân hẹp hòi, không có lời nói, cử chỉ thô
thiển, tục tữu, thiếu văn hóa, không được chen lấn, xô đẩy đây là một
hành vi thường thấy khi lên xuống tàu xe.
3. Giao tiếp ứng xử trong một số hoàn cảnh đặc biệt
Ví dụ: Khi đi dự tiệc sinh nhật cần ăn mặc phù hợp với tính chất của
từng cuộc. Khi được giới thiệu, cần thể hiện nét mặt tươi vui, dễõ gần,
nên chủ động trò chuyện để tạo không khí gần gũi, đầm ấm không nên
hò la om sòm….
Khi đi dám cưới phải tươi cười, không lợi dụng sự vui mừng mà khôi
hài bằng những câu dung tục, thô thiển.
Khi đến dự đám tang không trò chuyện oang oang, cười đùa gây
phản cảm cho những người xung quanh, không đội mũ, xắn tay áo hay
rì rầm nói chuyện, không ăn mặc sặc sỡ, lòe loẹt.
Khi đến bệnh viện thăm người ốm không mặc quần áo lôi thôi, nên
đi nhẹ, nói khẽ, trò chuyện thân tình với người bệnh về những chuyện


lạc quan, tránh nói chuyện bi quan, chán nản. Không ở lại quá lâu,
không nên đi thăm vào giờ trưa hoặc quá khuya, nên chào hỏi mọi
người.
19
4. Giao lưu, ứng xử qua một số tiết mục văn nghệ, các tiểu phẩm
hoặc viết vẽ tranh gắn với tình huống giao tiếp, ứng xử cụ thể.
Học sinh vẽ, sáng tác về chủ đề nếp sống thanh lòch,
văn minh của học sinh Hà Nội qua giao tiếp, ứng xử.
20
Học sinh giao lưu văn nghệ

E. Kết thúc hoạt động
Giao tiếp , ứng xử có ý nghóa vô cùng quan trọng đối với đời sống xã
hội. Chúng ta cần rèn luyện cho mình thói quen giao tiếp, ứng xử
thanh lòch, văn minh ở mọi lúc, mọi nơi và mọi hoàn cảnh.
IV. KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Nhờ vận dụng đề tài này tôi thấy nhân cách sống của các em thay
đổi hẳn cụ thể là:
Lớp Hành vi ứng xử có văn hóa Hành vi ứng xử chưa có
văn hóa
9A( 45 h/s) 45 em 0 em
V. KẾT LUẬN
Qua quá trình giảng dạy và làm công tác chủ nhiệm trong nhiều
năm qua, bản thân tôi đã áp dụng những biện pháp nói trên và đã
21
đem lại nhiều kết quả khả quan. Hy vọng sáng kiến kinh nghiệm này
góp phần nhỏ bé vào việc giáo dục đạo đức học sinh lứa tuổi THCS.
Chủ Tòch Hồ Chí Minh đã nói:
“ Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên”.


Thật vậy muốn trở thành một người vừa có tài vừa có đức thì phải được
học tập và rèn luyện trong môi trường tốt.
Đào tạo con người trở thành công dân tốt là nhiệm vụ của toàn xã
hội trong đó có nhà trường. Nhà trường bao giờ cũng giữ một vai trò
hết sức quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ. Là một giáo viên
trong trường THCS, tôi mong muốn được góp phần mình cùng với nhà
trường, gia đình và xã hội để tìm ra những biện pháp tốt nhất trong
việc giáo dục đạo đức cho các em ở lứa tuổi THCS để các em trở thành
con ngoan trò giỏi, chủ nhân tương lai của đất nước, làm cho đất nước
ta ngày càng giàu đẹp hơn.
VI. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT , KIẾN NGHỊ
- Mong các cấp lãnh đạo cung cấp thêm tài liệu.
- Mong Sở giáo dục và đào tạo nghiên cứu và có kế hoạch đưa giờ học
Giáo dục nhân cách học sinh trở thành một bộ môn học chính
trong tất cả các cấp học.
- Mỗi một giáo viên nói chung và giáo viên chủ nhiệm nói riêng
không chỉ có tri thức, mà phải truyền đạt bằng cả nhiệt huyết của
người giáo viên với khẩu hiệu” Tất cả vì học sinh thân yêu”, “ Vì
các em hôm nay là vì tương lai của dân tộc, đất nước”.
Thanh Thùy, ngày 28 tháng 4 năm 2012
Người thực hiện
( kí, ghi họ tên)
22
Nguyễn Thò Nhung
Ý KIẾN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ VÀ XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG
KHOA HỌC CƠ SỞ
……………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………


…………………………………………
Thanh Thùy, ngày … tháng … năm 2012
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
(Ký tên, đóng dấu)
Ý KIẾN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ VÀ XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG
KHOA HỌC CẤP HUYỆN
……………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………
……………
Thanh Oai, ngày … tháng … năm 2012
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
(Ký tên, đóng dấu)
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
* * *
- Sách Mó học và giáo dục thẩm mó - Nhà xuất bản Đại học sư
phạm.
- Sách Đạo đức học - Nhà xuất bản giáo dục.
- Sách Thực hành tổ chức hoạt động giáo dục - Nhà xuất bản giáo
dục.
- Tài liệu chuyên đề Giáo dục nếp sống thanh lòch, văn minh cho học
sinh HàNội - Nhà xuấùt bản Hà Nội
- nh tư liệu
24
Muùc luùc
Mục lục
I. Sơ yếu lý lịch


II. Nội dung của đề tài
1. Lý do chọn đề tài
2. Thời gian phạm vi thực hiện đề tài
III. Thời gian thực hiện đề tài
1. Khảo sát thực tế
2. Số liệu điều tra trớc khi thực hiện đề tài
25

Tăng cường giáo dục nhân cách, kỹ năng sống cho học sinh

Thùy Liên

Đánh giá tác giả:

10:11 thứ ba ngày 16/03/2021

Tăng kích thước font chữ Giảm kích thước font chữ In bài viết Gửi bài viết

Gắn việc học pháp luật với rèn kỹ năng sống cho học sinh

(HNNN) - Trong giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách, tâm lý của học sinh các lứa tuổi có sự bất thường mang tính nhất thời, nhưng cũng có những hiện tượng tâm lý gây trở ngại cho sự phát triển mà các em không thể tự giải quyết được. Khi ấy, sự trợ giúp tâm lý có thể giúp các em lấy lại sự tự tin để vượt qua và tiếp tục tiến lên.

Phòng Tư vấn tâm lý ở Hệ thống giáo dục chất lượng cao Nguyễn Bỉnh Khiêm (quận Cầu Giấy). Ảnh: TL

Khoảng trống lớn trong các nhà trường

Tiến sĩ Tâm lý học Nguyễn Thị Kim Quý (Văn phòng Tham vấn và Trị liệu tâm lý trẻ em) nhận định: Trong mỗi giai đoạn phát triển, trẻ em, học sinh trải qua những xung đột tâm lý nhiều khi gây ra sự mất cân bằng trong tư tưởng, ảnh hưởng đến hiệu quả học tập, tu dưỡng và phát triển tâm, sinh lý. Những biểu hiện cụ thể rất đa dạng như: Lo lắng trước một kỳ thi; buồn bã khi bị bạn bè xa lánh, cô lập; sợ hãi khi bị người xấu đe dọa, hành hung... Nếu không được người lớn phát hiện, giúp đỡ kịp thời thì có thể xảy ra những hậu quả xấu, thậm chí rất xấu. Trong thời gian qua, những vụ việc đau lòng như bạo lực học đường; tự tử vì thành tích học tập kém, vì bị chê bai, chửi mắng; sang chấn tâm lý trầm trọng vì gặp sự cố bất thường... đều có nguyên nhân từ tâm lý tuổi trẻ chưa phát triển đầy đủ hoặc trẻ chưa được quan tâm, chia sẻ, hỗ trợ, giáo dục thường xuyên, toàn diện.

Những năm từ 2005 đến 2010 xuất hiện “phong trào” thành lập phòng Tư vấn tâm lý học đường trong các nhà trường, nhưng sau đó đã lắng xuống. Ở Hà Nội, số trường làm khá tốt công tác này cũng chỉ đếm “chưa hết đầu ngón tay” như: Hệ thống giáo dục chất lượng cao Nguyễn Bỉnh Khiêm (quận Cầu Giấy), Trường (liên cấp) Đoàn Thị Điểm (quận Bắc Từ Liêm và quận Nam Từ Liêm), Trường THPT Lương Thế Vinh (quận Cầu Giấy), Trường THPT Đinh Tiên Hoàng (quận Ba Đình), Trường (liên cấp) Olympia (quận Nam Từ Liêm), Trường (liên cấp) Vinschool. Tất cả đều là các trường ngoài công lập.

Theo PGS.TS Nguyễn Đức Sơn, Trưởng khoa Tâm lý - Giáo dục học (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội), thực trạng công tác tư vấn tâm lý học đường ở các nhà trường còn nhiều bất cập. Cho đến nay chưa có thống kê đầy đủ về thực trạng này, vì thế, chưa thể có cái nhìn toàn cảnh về công tác này. Tuy nhiên, có thể nhận định rằng, công tác tư vấn học đường chưa thực sự được quan tâm, chưa được thực hiện một cách bài bản và chuyên nghiệp, vì thế, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường.

Có 3 hạn chế chủ yếu, thứ nhất là hầu hết các trường còn thiếu (và yếu) cán bộ, giáo viên phục vụ cho công tác tư vấn tâm lý học đường; các thầy cô giáo được đào tạo để giảng dạy các bộ môn văn hóa, không chuyên sâu về tâm lý học... Thứ hai: Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác tư vấn tâm lý học đường còn rất thiếu, thậm chí ở tình trạng “2 không” (không có phòng riêng để đảm bảo quyền riêng tư của các em khi cần được tư vấn, không có tài liệu cần cho công tác này). Thứ ba: Ở nhiều trường, sự gắn kết, phối hợp giữa phụ huynh với nhà trường và với xã hội chưa thật chặt chẽ, chưa thường xuyên, nên chưa kịp thời phát hiện các “ca” cần tư vấn tâm lý, chưa tạo được niềm tin để các em giãi bày tâm tư...

Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Quý cho biết thêm rằng, có rất ít cuộc tư vấn được thực hiện bởi các chuyên gia hoặc các nhà giáo có chứng chỉ hành nghề tư vấn chuyên nghiệp. Còn các cuộc tư vấn do giáo viên thực hiện lại ở ngoài giờ lên lớp, khi đã xảy ra một vụ việc nào đó. Điều ấy có nghĩa là giáo viên đóng vai trò tư vấn phải “gỡ rối”, rất khó khăn.

Cần đầu tư theo hướng chuyên nghiệp hóa

Ở các nước phát triển, hoạt động tư vấn tâm lý trường học được quan tâm đầu tư các điều kiện thiết yếu để trở thành hoạt động mang tính chất chuyên nghiệp, hướng vào mục đích hỗ trợ các nhà giáo dục trong việc bổ sung, hoàn thiện các phương pháp hình thành và phát triển nhân cách học sinh một cách đúng đắn.

Thực tế xã hội và giáo dục ở nước ta hiện nay cho thấy, tư vấn tâm lý học đường đã trở thành vấn đề cấp bách, cần được chuyên nghiệp hóa. Cụ thể, cần có định chế “cứng”, tổ chức bài bản để chuyên nghiệp hóa; những người thực hiện phải có kỹ năng “mềm” để xử lý linh hoạt, hiệu quả. PGS.TS Trần Thành Nam, Chủ nhiệm khoa Các khoa học giáo dục, Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, khi có điều kiện, có thể sàng lọc học sinh khi mới vào trường. Với khoảng 80% học sinh chưa mắc các vấn đề về tâm lý, nhà tư vấn có thể hỗ trợ ban đầu để thực hiện công tác phòng ngừa. Với khoảng 15% học sinh có vấn đề tâm lý nặng hơn thì cần phải có sự can thiệp, hỗ trợ chuyên sâu. Với khoảng 5% học sinh đã mắc bệnh, luôn lo âu, trầm cảm thì phải được hỗ trợ bởi bác sĩ tâm thần hoặc chuyên gia tâm lý lâm sàng.

GS.TS Nguyễn Ngọc Phú, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Khoa học Tâm lý giáo dục Việt Nam cho rằng, phải nắm rõ thực trạng và nguyên nhân để có giải pháp xử lý phù hợp. Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Phú, có 2 vấn đề nổi lên là tình trạng học sinh mắc rối loạn tâm thần có biểu hiện gia tăng, trong khi cách giải quyết của các em lại bồng bột, manh động, để lại hậu quả nặng nề; nhiều học sinh, sinh viên sa sút về lối sống, về đạo đức, nhân cách, từ đó lười học, lười suy nghĩ, lười lao động... Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Phú, có 3 nhóm nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên: Các em còn hạn chế về ý thức tu dưỡng, trong khi công tác giáo dục đạo đức chưa được thực hiện thật tốt; nhiều gia đình chưa quan tâm đầy đủ đến con cái, phó mặc nhà trường; tác động tiêu cực từ tranh, ảnh, trò chơi game thiếu lành mạnh... làm cho các em có những hành vi thiếu chuẩn mực.

Để khắc phục tình trạng trên, GS.TS Nguyễn Ngọc Phú cho rằng cần thực hiện 3 nhóm giải pháp chính. Thứ nhất, các gia đình phải nâng cao trách nhiệm, thực sự là “tổ ấm” đầu đời và suốt đời, nuôi dưỡng mầm thiện nhân cách và định hướng phát triển cho các em. Thứ hai, các nhà trường phải tăng cường hiệu quả giáo dục đạo đức cho các em trong cả học tập và sinh hoạt; làm tốt vai trò hạt nhân trong mối quan hệ phối hợp giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Thứ ba, các cấp, ngành và toàn xã hội tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng xã hội có kỷ cương, luật pháp được thực thi nghiêm minh. Kết hợp hài hòa giữa “xây” (tuyên dương, bảo vệ người tốt, việc tốt) và “chống” (lên án, ngăn chặn, xử lý nghiêm khắc hành vi xấu, sai trái) để tác động tích cực đến công tác giáo dục đạo đức, nhân cách cho học sinh.

Để nâng cao hiệu quả tư vấn tâm lý học đường, góp phần giải quyết những vấn đề phức tạp, tế nhị trong tâm lý thế hệ trẻ thì cần có sự đồng lòng, chung sức của toàn xã hội. NGƯT.TS Nguyễn Thanh Sơn cho rằng, cần tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường với phụ huynh để phát hiện sớm những vấn đề tâm lý nảy sinh trong các em, tránh tình trạng chồng chéo hoặc bỏ sót. Khi giải quyết vấn đề thì phải nhẹ nhàng, kín đáo, tôn trọng học sinh vì các em rất dễ tự ái, dễ tổn thương. Riêng với các nhà trường, với vai trò là trung tâm giáo dục, cần có danh mục cụ thể cho công tác này, không chờ đến khi có đủ điều kiện mới làm. Mỗi trường cần thành lập Phòng Tư vấn tâm lý học đường (riêng hoặc kết hợp), động viên các nhà giáo có năng lực, có ảnh hưởng lớn với học sinh tham gia thực hiện với phương châm vừa làm, vừa rút kinh nghiệm. Cùng với đó, cần đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền về sự cần thiết của công tác tư vấn tâm lý học đường để phụ huynh và xã hội quan tâm, ủng hộ, hỗ trợ thực hiện đạt hiệu quả cao.

Còn theo PGS.TS Trần Thị Minh Hằng, Giảng viên cao cấp của Học viện Quản lý Giáo dục, để tư vấn tâm lý học đường có hiệu quả thì cần bám sát mục tiêu, yêu cầu tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Nhà trường phải cụ thể hóa các điều kiện cho công tác này, bao gồm: Tạo điều kiện về cơ sở vật chất, đào tạo bồi dưỡng và chế độ đãi ngộ cho những người làm công tác tư vấn tâm lý học đường; phối hợp với gia đình và xã hội xây dựng mạng lưới nhanh, nhạy để nhận biết, phòng ngừa và giải quyết các vụ bạo lực trong và ngoài trường học.

Tăng cường giáo dục nhân cách, kỹ năng sống cho học sinh Đóng Tự trình chiếu Dừng trình chiếu

Tin liên quan Gắn việc học pháp luật với rèn kỹ năng sống cho học sinh

(HNM) - Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành kế hoạch công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2021 của ngành Giáo …

Chia sẻ Facebook Chia sẻ Google Plus Chia sẻ Twitter Chia sẻ Zalo Tới khu vực bình luận In bài viết Gửi bài viết

Từ khóa: giáo dục nhân cách tư vấn tâm lý kỹ năng sống học sinh

Giáo dục nhân cách đạo đức cho học sinh: Đề cao tính nêu gương

Linh Nhi

Đánh giá tác giả:

08:29 thứ bảy ngày 18/11/2017

Tăng kích thước font chữ Giảm kích thước font chữ In bài viết Gửi bài viết

Những bông hoa đẹp của ngành Giáo dục Thủ đô

(HNM) - Tại nhà trường, học sinh không chỉ được trang bị những kiến thức cơ bản mà còn được rèn luyện về đạo đức. Những giá trị đạo đức căn bản như tính trung thực, tinh thần trách nhiệm, lòng yêu thương,... sẽ giúp con người sống tốt đẹp hơn. Và để giáo dục con trẻ hiệu quả, sự nêu gương của người lớn, thầy cô giáo có vai trò đặc biệt quan trọng.

Sự chung tay của nhà trường, gia đình và xã hội sẽ giúp trẻ phát triển toàn diện. Ảnh: Nhật Nam


Ông Phạm Ngọc Anh (Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo quận Cầu Giấy):
Nắm bắt tâm lý để có biện pháp giáo dục hiệu quả

Giáo dục đạo đức là một hoạt động rất quan trọng trong nhà trường. Nhiều năm qua, các trường học trên địa bàn quận Cầu Giấy luôn quan tâm, chú trọng hoạt động này và triển khai bằng nhiều biện pháp khác nhau. Ngoài các giờ học trên lớp qua môn học giáo dục công dân theo sách giáo khoa, các trường còn tăng cường các giờ học ngoại khóa, các hoạt động tập thể... để tăng cường giáo dục đạo đức, nâng cao nhận thức cho học sinh. Về cơ bản, học sinh có ý thức trau dồi đạo đức cả ở trường và tại nhà. Tuy nhiên, còn một số học sinh chưa có tính kỷ luật, tự giác rèn luyện để trở thành "con ngoan, trò giỏi" nên chưa nghiêm túc trong học tập; nói năng và hành động chưa thanh lịch, văn minh, thậm chí có em còn nói bậy hoặc cãi lộn, đánh nhau với bạn. Cả các bậc cha mẹ và thầy cô đều cần phải nỗ lực có giải pháp uốn nắn, động viên, nghiêm khắc chỉ bảo để các em nhận ra sai sót, qua đó nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh các cấp.

Cô giáo Phùng Thị Chúc (giáo viên Trường THCS Tứ Liên, quận Tây Hồ):
Phải hết lòng vì học sinh

Mục đích chính của giáo dục - là giáo dục nhân cách cho học sinh, nhưng tôi nhận thấy, vẫn có một bộ phận học sinh mắc sai lầm trầm trọng trong suy nghĩ, lối sống, có hành động, cử chỉ, tác phong giao tiếp chưa đúng mực. Có em thể hiện lối sống lập dị từ ăn nói, đi đứng, thậm chí có biểu hiện lệch lạc về nhân cách như nữ sinh học đòi phong cách ăn mặc, cử chỉ, nói năng giống nam giới cốt để cho “oai”, hoặc trước mặt giáo viên thì ngoan ngoãn, sau lưng thì văng tục nói bậy. Những biểu hiện này thể hiện sự thiếu tôn trọng với thầy cô và tự trọng với bản thân. Công bằng mà nói để điều này xảy ra có phần trách nhiệm từ phía giáo viên! Các thầy cô phải tự hỏi mình đã hết lòng vì học sinh chưa, đã thực sự gương mẫu, ứng xử chuẩn mực chưa, khi mà tình trạng dạy thêm còn tràn lan, thậm chí có biểu hiện không công bằng với học sinh, ưu ái hoặc thiên lệch trong từng hoàn cảnh cụ thể...

Bà Nguyễn Bích Thủy (cựu giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm Mẫu giáo nhà trẻ Hà Nội):
Giúp học sinh rèn luyện tính tự lập

Thanh thiếu niên, thậm chí cả sinh viên đều trong độ tuổi hoàn thiện nhân cách. Bản năng thích thể hiện cái tôi là tâm sinh lý bình thường, nhưng các thầy cô và gia đình phải hết sức chú ý. Bởi các con khi đó suy nghĩ chưa chín chắn, dễ hành động bột phát, dẫn tới xung đột và thiếu kiểm soát trong hành vi, cử chỉ, lời nói. Đây là điều kiện thuận lợi để cha mẹ, thầy cô hướng các con đến "Chân - Thiện - Mỹ". Muốn vậy, theo tôi đầu tiên thầy cô cần đề cao tinh thần gương mẫu, làm gương cho các con qua những việc làm, hành động hằng ngày. Để cảm hóa, thu phục học sinh cũng phải khéo léo khuyến khích các con phát huy tính tự lập, tự giác “Học thầy không tày học bạn”. “Thả” các con tự “bơi” như vậy nhưng cha mẹ thầy cô cần quản lý, giám sát chặt, để tránh tính tùy tiện, tự phụ, ngạo mạn, thiếu ý chí phấn đấu vươn lên...

Bà Phan Thị Thu Thủy (phụ huynh học sinh Trường THCS Trưng Vương, quận Hoàn Kiếm):
Gia đình phải chủ động giáo dục đạo đức cho con trẻ

Để trẻ trở thành con ngoan, trò giỏi, theo tôi phải luôn coi trọng và bảo đảm kết hợp giáo dục tốt giữa "Gia đình, nhà trường và xã hội". Trong đó, gia đình giữ vai trò quan trọng hàng đầu bởi đây là nơi con gắn bó, gần gũi nhất. Mọi biểu hiện của con cũng thể hiện tại gia đình, nên các bậc phụ huynh chính là những “người thợ tài hoa” để “vẽ” lên tâm hồn như "tờ giấy trắng" của các con... Nhà trường là nơi cùng dìu dắt, định hướng, giúp học sinh trau dồi kiến thức và ý thức. Xã hội là môi trường để học sinh rèn luyện, trải nghiệm. Ba yếu tố này tương quan chặt chẽ như một, nhưng lại rất riêng. Nếu con ngoan ở trường, nhưng về nhà bố mẹ không gương mẫu, sống trong môi trường đó con cái sẽ không ngoan ngoãn, hoặc “khoán” cho nhà trường việc giáo dục, dạy dỗ để các con hình thành nhân cách "Chân - Thiện - Mỹ" thì thực sự các bậc cha mẹ chưa làm hết trách nhiệm đối với chính con em của mình.

Giáo dục nhân cách đạo đức cho học sinh: Đề cao tính nêu gương Đóng Tự trình chiếu Dừng trình chiếu

Tin liên quan Những bông hoa đẹp của ngành Giáo dục Thủ đô

(HNM) - Cuộc vận động “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” là nội dung cụ thể hóa việc thực hiện …

Chia sẻ Facebook Chia sẻ Google Plus Chia sẻ Twitter Chia sẻ Zalo Tới khu vực bình luận In bài viết Gửi bài viết

Từ khóa: Giáo dục đạo đức học sinh nhà trường

Phương pháp giáo dục nhân cách cho trẻ mầm non thông qua các hoạt động hàng ngày

Renovation-and-refit-projects

Giáo dục nhân cách cho trẻ mầm non là nhiệm vụ quan trọng của cơ sở giáo dục và cả các bậc phụ huynh. Bởi lứa tuổi mầm non được xem là nền móng phát triển nhân cách, đạo đức cho trẻ sau này. Do đó, cha mẹ hãy chú trọng việc giáo dục nhân cách cho trẻ thông qua các hoạt động hàng ngày như gợi ý trong bài viết ngay sau từ Trường Quốc Tế Sài Gòn Pearl (ISSP).

Đặt lịch tham quan Trường Mầm Non Quốc Tế Sài Gòn Pearl (ISSP) ngay hôm nay để trải nghiệm phương pháp giáo dục nhân cáchcho trẻ mầm nontại trường